Đạo Sư ! Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491–1585) được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn cũng như tài tiên tri các sự vật, hiện tượng, nhân vật trước 500 năm.

Cụ sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491) tại làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định; thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lân, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số. Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Ông sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.

Năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh lúc 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua Mạc Đăng Doanh cất ông lên làm Tả Thị lang Đông các Học sĩ và được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.

 

 

Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542. Khi về ẩn cư, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học cạnh sông Tuyết, do đó học trò gọi ông là “Tuyết giang Phu tử”.

Bạn của ông là những tài danh lỗi lạc một thời như Bảng nhãn Bùi Doãn Đốc, Thám hoa Nguyễn Thừa Hưu, Thư Quốc công Thương thư Trạng nguyên Nguyễn Thiến.

Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Dữ- tác giả Truyền kỳ mạn lục, Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh,Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Quốc công Nguyễn Quyện, Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Tiến sĩ Đinh Thời Trung, Hàn Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính … Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về viếng. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công.

 

 

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân, gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán (còn lưu lại) và hai tập Trình Quốc công Bạch vân thi tập và Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi, (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm) hiện còn lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài thơ trong tập Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy đức bao trùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời. Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau này.

Người Trung Hoa khen Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là “An Nam lý số hữu Trình Tuyền”. Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là “Sấm Trạng Trình”.

Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê. Khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (có tài liệu viết là “khả dĩ dung thân”) nghĩa là “Một dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài”.

Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá. Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc “Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể” (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa. Đối với Lê – Trịnh, khi vua Lê Trung Tông chết không có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ông. Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là nói với bề tôi họ Trịnh: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản” (ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe theo, sai người tìm người tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Lê Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: “Lê tồn Trịnh tại”.

Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết trong bộ sách lớn Lịch Triều Hiến Chương Lọai Chí: “Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở”. La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp khi về thăm đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có bài thơ Quá Trình tuyền mục tự (Qua thăm đền cũ Trình tuyền) đã xem Trình tuyền là người có tài “Huyền cơ tham tạo hóa” (nắm được huyền vi xen vào công việc của tạo hóa). Tiến sĩ thời nhà Hậu Lê Vũ Khâm Lân đã làm bia ở đền Trạng Trình và nói rằng danh tiếng Trạng Như núi Thái sơn, sao Bắc Đẩu Nghìn năm sau vẫn như vậy.

Thanh nhàn vô sự là tiên

Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi

Cơ tạo hoá Phép đổi dời

Đầu non mây khói tỏa

Mặt nước cánh buồm trôi

Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi

Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời

Tuổi già thua kém bạn

Văn chương gửi lại đời

Dở hay nên tự lòng người cả

Nghiên bút soi hoa chép mấy lời

Bí truyền cho con cháu

Dành hậu thế xem chơi.

Nước Nam từ họ Hồng Bàng

Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi dời

Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước

Đã bao lần ngôi nước đổi thay

Núi sông thiên định đặt bày

Đồ thư một quyển xem nay mới rành

Hoà đao mộc lạc

Thập bát tử thành.

Đông A xuất nhập

Dị mộc tái sinh.

Chấn cung xuất nhật

Đoài cung vẫn tinh.

Phụ nguyên trì thống,

Phế đế vi đinh.

Thập niên dư chiến,

Thiên hạ cửu bình.

Lời thần trước đã ứng linh,

Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.

Hoà đao mộc hồi dương sống lại

Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương.

Hà thời biện lại vi vương,

Thử thời Bắc tận

Nam trường xuất bôn.

Lê tồn, Trịnh tại, Lê bại, Trịnh vong.

Bao giờ ngựa đá sang sông,

Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.

Hà thời thạch mã độ giang.

Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.

Chim bằng cất cánh về đâu?

Chết tại trên đầu hai chữ quận công.

Bao giờ trúc mọc qua sông,

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.

Đoài cung một sớm đổi thay,

Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.

Đầu cha lộn xuống chân con,

Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.

Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,

Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.

Dục lòng chim chích u mê,

Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.

Để loại quỷ bạch Nam xâm,

Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly

Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy

Gia đình một ở ba đi dần dần.

Cho hay những gã công hầu,

Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này.

Kìa kìa gió thổi lá rung cây

Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây

Tan tác kiến kiều an đất nước

Xác xơ cổ thụ sạch am mây.

Lâm giang nổi sóng mù thao cát,

Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy.

Một ngựa một yên ai sùng bái?

Nhắn con nhà vĩnh bảo cho hay.

Tiền ma bạc quỷ trao tay

Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua,

Giữa năm hai bẩy mười ba,

Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.

Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,

Rắn mới hai đầu khó chịu thay,

Ngựa đã gác yên không người cưỡi

Dê không ăn lộc ngoảnh về Tây.

Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu

Gà kia vỗ cánh chập chùng bay

Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa

Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.

Nói cho hay khảm cung ong dậy,

Chí anh hùng biết đấy mới ngoan.

Chữ rằng lục, thất nguyệt gian

Ai mà giữ được mới nên anh tài.

Ra tay điều độ hộ mai

Bấy giờ mới rõ là người an dân

Lọ là phải nhọc kéo quân,

Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.

Phá điền than đến đàn dê

Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng

Dê đi dê lại tuồn luồn

Đàn đi nó cũng một môn phù trì

Thương những kẻ nam nhi chí cả

Chớ vội sang tất tả chạy rong

Học cho biết chữ cát hung

Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi

Hễ trời sinh xuống phải thì

Bất kỳ nhi ngộ tưởng gì đợi mong.

Kìa những kẻ vội lòng phú quý

Xem trong mình một tí đều không

Ví dù có gặp ngư ông

Lưới dăng đâu dễ nên công mà hòng.

Khuyên những đấng thời trung quân tử

Lòng trung nghi nên giữ cho mình

Âm dương cơ ngẫu hộ sinh

Thái Nhâm, Thái Ất trong mình cho hay.

Chớ vật vờ quen loài ong kiến

Hư vô bàn miệng tiếng nói không.

Ô hô thế sự tự bình bồng

Nam Bắc hà thời thiết lộ thông

Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch

Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng.

Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc

Ngưu xuất lam điền nhật chính đông

Nhược đãi ưng lai sư tử thượng

Tứ phương thiên hạ thái bình phong.

Ngỡ may gặp hội mây rồng

Công danh rạng rỡ chép trong vân đài

Nước Nam thường có thánh tài

Sơn hà đặt vững ai hay tỏ tường?

So mấy lề để tàng kim quỹ

Kể sau này ngu bỉ được coi

Đôi phen đất lở, cát bồi

Đó đây ong kiến, dậy trời quỷ ma

Ba con đổi lấy một cha

Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền

Mão Thìn Tí Ngọ bất yên

Đợi tam tứ ngũ lai niên cùng gần.

Hoành Sơn nhất đái Vạn đại dung thân

Đến thời thiên hạ vô quân

Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.

Gà kêu cho khỉ dậy nhanh

Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung

Thiên sinh hữu nhất anh hùng

Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà.

Thái Nguyên cận Bắc đường xa

Ai mà tìm thấy mới là thần minh

Uy nghi dung mạo khác hình

Thác cư một góc kim tinh non đoài

Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi

Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân

Binh thư mấy quyển kinh luân

Thiên văn địa lý, nhân dân phép màu

Xem ý trời ngõ hầu khải thánh

Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai

Song thiên nhật nguyệt sáng soi

Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường

Thông minh kim cổ khác thường

Thuấn Nghiêu là trí, Cao Quang là tài

Đấng hiên ngang nào ai biết trước

Tài lược thao uyên bác vũ văn

Ai còn khoe trí khoe năng

Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.

Chưa từng thấy nay đời sự lạ

Chốc lại mòng gá vạ cho dân

Muốn bình sao chẳng lấy nhân

Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?

Đã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán

Lại đua nhau quần thán đồ lê

Chức này quyền nọ say mê

Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương

Kẻ thì phải thuở hung hoang

Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình

Cửu cửu càn khôn dĩ định

Thanh minh thời tiết hoa tàn

Trực đáo dương đầu mã vĩ

Hồ binh bát vạn nhập Tràng An

Nực cười những kẻ bàng quang

Cờ tam lại muốn toan đường chống xe

Lại còn áo mũ xun xoe

Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

Ghê thay thau lẫn với vàng

Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng

Thánh ra tuyết tán mây tan

Bây giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.

Can qua, việc nước bời bời

Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân

Oai phong khấp quỷ kinh thần

Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca

Rừng xanh, núi đỏ bao la

Đông tàn, Tây bại sang gà mới yên

Sửu Dần thiên hạ đảo điên

Ngày nay thiên số vận niên rành rành.

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh

Can qua xứ xứ khổ đao binh

Mã đề dương cước anh hùng tận

Thân dậu niên lai kiến thái bình

Sự đời tính đã phân minh

Thanh nhàn mới kể chyện mình trước sau

Đầu thu gà gáy xôn xao

Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.

Chó kêu ầm ỉ mùa đông

Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi

Lợn kêu tình thế lâm nguy

Quỷ vương chết giữa đường đi trên giời

Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi

Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra

Hùm gầm khắp nẽo gần xa

Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời.

Rồng bay năm vẻ sáng ngời

Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng

Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng

Cha con dòng họ thầy tăng hết thời

Chín con rồng lộn khắp nơi

Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu

Lời truyền để lại bấy nhiêu

Phương đoài giặc đã đến chiều bại vong

Hậu sinh thuộc lấy làm lòng

Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.

Đầu can Võ tướng ra binh

Ắt là trăm họ thái bình âu ca

Thần Kinh Thái Ất suy ra

Để dành con cháu đem ra nghiệm bàn

Ngày thường xem thấy quyển vàng

Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi

Bởi Thái Ất thấy lạ đời

Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân

Kể từ đời Lạc Long Quân

Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian

Mỗi đời có một tôi ngoan

Giúp chung nhà nước dân an thái bình

Phú quý hồng trần mộng

Bần cùng bạch phát sinh

Hoa thôn đa khuyển phệ

Mục giã giục nhân canh

Bắc hữu Kim thành tráng

Nam hữu Ngọc bích thành

Phân phân tùng bách khởi

Nhiễu nhiễu xuất đông chinh

Bảo giang thiên tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

Rồi ra mới biết thánh minh

Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò

Nhị Hà một dải quanh co

Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào

Khắp hoà thiên hạ nao nao

Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?

Nói đến độ thầy tăng mở nước

Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu

Bấy lâu những cậy phép màu

Bây giờ phép ấy để lâu không hào

Cũng có kẻ non trèo biển lội

Lánh mình vào ở nội

Ngô Tề Có thầy Nhân

Thập đi về Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh

Những người phụ giúp thánh minh

Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai

Phùng thời nay hội thái lai

Can qua chiến trận để người thưởng công

Trẻ già được biết sự lòng

Ghi làm một bản để hòng giở xem

Đời này những thánh cùng tiên

Sinh những người hiền trị nước an dân

Này những lúc thánh nhân chưa lại

Chó còn nằm đầu khải cuối thu

Khuyên ai sớm biết khuông phù

Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngỏ hầu.

Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,

Cuộc tàn rồi mới tỏ thấp cao.

Thấy sấm từ đây chép vào

Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa

Di Ngôn ! Bút Tích Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Ôi ! Nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là để nói chí. Có kẻ chí  ở đạo đức, có kẻ chí  ở công danh, có kẻ chí  ở sự nhàn dật. Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí thích nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui, rất là vụng về trong nghề thơ. Tuy nhiên, cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy, mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vinh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, được cả thảy một nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên là Tập thơ am Bạch Vân. (Bạch Vân am thi tập tự)

Quán dựng xong, đề biển là Quán Trung Tân. Có người hỏi: lấy tên quán như vậy ý nghĩa thế nào? Ta trả lời rằng: Trung nghĩa là Trung Chính vậy. Giữ được toàn vẹn Tính Thiện của mình là Trung vậy, không giữ toàn vẹn được tính Thiện của mình thì không phải là Trung vậy. Tân tức là Bến vậy. Biết chỗ dừng đó là đúng bến, không biết chỗ dừng thì là lạc bến vậy. Tên gọi của quán này đại thể là như thế. Như trung với vua, hiếu với cha mẹ, thân ái với anh em, hòa hợp vợ chồng, tín với bạn bè, đó là Trung vậy. Đối diện với của cải mà không tham, thấy lợi mà không tranh giành, vui với điều thiện mà bao dung được người, lấy tình thực mà ứng đãi với mọi vật, đó cũng là Trung vậy… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện vậy. (Trung Tân quán bi ký  1543)

Do tự ràng buộc ở bẩm khí, bị che lấp vì vật dục, có kẻ không giữ được trọn vẹn như thuở đầu mới sinh ra, trở nên kiêu sa, biển lận, gian tà, thiên lệch, không có điều gì không làm. Ở triều đình thì tranh nhau cái danh, ở chợ búa thì giành nhau cái lợi. Khoe là sang thì xe mát quán ấm, khoe là giàu thì nhà múa lầu hát. Thấy người chết đói dọc đường không dám bỏ một đồng tiền ra cứu giúp. Thấy nơi trống trải không có gì che mưa, không dám bỏ một bó tranh để che đậy. Điều thiện không được tu dưỡng đã lâu vậy… May mà trong làng người hướng về điều Thiện chưa hề mất hết. Các cụ già cùng ta khuyên nhau làm điều thiện: bắc cầu, làm chùa, làm quán, chốn chốn đều được tu sửa. Ta cũng lấy làm vui mừng về điều ấy, trong lòng thường khen ngợi. (Trung Tân quán bi ký, 1543)

Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568)